Về quê tôi,…

Ai trong chúng ta đều sẽ có một nơi chốn để sống, lớn lên và quay về an nhàn. Có nhiều từ để gọi về “chốn ấy” nhưng tôi, một chàng trai kỹ thuật hơi khô khan một chút sẽ gọi là “quê” và từ mà tôi hay dùng để nói với mọi người đó là “quê tôi”.

Mỗi người trong chúng ta đều có quê của riêng mình, tôi không may mắn như vậy vì trong tưởng tượng của tôi quê hải là một nơi nào hơi xa một chút, bớt ồn ào một chút, nhẹ nhàng thoảng hương đưa mỗi khi chiều tà, nhẹ nhàng mùi sương sớm mỗi sớm mai thức dậy cơ.

Thêm nữa, những rặng tre, những hàng cau, những hàng rào hoa râm bụt và cái không khí đặc quánh khi chiều tà đã ôm trọn quê, ở quanh đây những bếp lửa đốt rơm rạ đã đỏ lửa… và mùi đặc quánh đó tôi gọi là “hồn quê”.

Quê tôi, mà thực ra gọi là làng tôi thì sẽ chuẩn hơn (nhưng tôi sẽ vẫn gọi nơi mình sinh ra, lớn lên là “quê tôi” vì tôi thích Quê hơn mọi thứ khác). Làng tôi ở một vùng ngoại thành ven Hà Nội, vì ngoại thành ven Hà Nội nên tôi cũng có đầy đủ kỷ niệm của tuổi thơ và tuổi thơ của tôi cũng gắn chặt với “hồn quê”. Bình thường tôi sẽ trốn ở đâu đó có khung cảnh “hơi quê” một chút để viết về quê tôi nhưng hôm nay lại rất khác. Tôi viết về “quê tôi” khi chẳng trốn ở đâu được cả.

Quê tôi là một vùng quê nghèo chiêm chũng, bao quanh quê tôi đều là những cánh đồng, rặng cây, hồ nước và chẳng thể thiếu nổi những rặng tre. Tôi mặc dù chỉ tận hưởng “quê” chẳng được dài hơi lắm nhưng trong tâm trí của một cậu học trò nghèo / nghịch ngợm thì những kỷ niệm “chẳng dài hơi” đó sẽ còn mãi tận sâu trong tâm trí tôi.


Những buổi chiều cậu học trò nghèo lang thang trên khắp những cánh đồng, nằm dài trên những thảm cỏ xanh chờ đón những cơn gió. Chàng học trò nghèo ngắm nhìn cánh diều đang bay trên cao kia và tự hỏi mình những câu hết sức ngây ngô như “ở trên cao kia, chỗ cánh diều đang phấp phới có gì nhỉ?”.

Ngày ấy, để có được con diều đón gió là cả một kỳ công của cậu học trò nghèo. Tôi nhớ rằng khung diều sẽ được vót, tỉa tót từ những nan mành bỏ đi. Giấy sẽ được lấy từ sách báo đi nhặt ở bãi rác gần nhà và hồ dán thì… sẽ dùng cơm. Ngày ấy cậu học trò nghèo sẽ đi nhặt dây bao xi măng từng đoạn từng đoạn để nối với nhau cho diều bay xa, bay xa mãi như ước mơ của cậu học trò nghèo thời bấy giờ. Nếu ai hỏi tôi rằng thuở xưa tôi ước mơ điều gì thì có lẽ tới giờ tôi cũng chẳng nhớ được nữa đâu chỉ biết rằng cánh diều kia vẫn bay cùng những đám mây xanh đang nhởn nhơ trên bầu trời kia mà thôi.


Những buổi trưa nắng cậu học trò nghèo trốn ngủ đi lang thang trên khắp những cánh đồng ngoài kia, đầu cậu đội một chiếc nón đã rách tả tơi, tay cầm một chiếc cần câu mà cậu dành dụm mãi mới mua được, một chiếc xô nhằm đựng những chiến lợi phẩm cậu câu được và một chiếc lá khoai. Sau lưng cậu cũng chẳng bao giờ thiếu một chú Cún, một chú Cún luôn đi theo cậu trong những cuộc đi “săn” đích thực.

Ngày ấy, “quê cậu” có rất nhiều cá và chủ yếu vẫn là cá rô ta. Câu hoài câu mãi nhưng chẳng hết,… có những lúc lơ đễnh / nghễnh ngãng cậu học trò nghèo đã từng hỏi có khi nào hết cá không nhỉ. Nhưng câu hỏi “nghễnh ngãng” thì nó vẫn là “nghễnh ngãng” mà thôi.

Quê của cậu học trò nghèo còn nhiều thứ lắm,… nhưng có lẽ sẽ để dành viết tiếp sau thôi.

Comment của bạn

  Subscribe  
Notify of